Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2016

Bí hiểm về tộc người “bé bỏng” nhất vn

(Công lý) - Trong 54 dân tộc đồng đội, có nhẽ dân tộc Ngái là một trong những dân tộc “bé bỏng” nhất vn, với số dân chưa tới 1100 người, cư trú tản mạn trên gần 10 thành phố. Nơi đồng bào Ngái cộng cư đông nhất là ở Tam Thái (phường Hóa Thượng, Đồng Hỷ, Thái Nguyên).

 Nguy cơ suy thoái nòi

 Suốt hàng chục năm qua, các nhà kỹ thuật đã có đa dạng tranh luận về dân tộc Ngái ở Việt Nam. Có người nghĩ rằng người Ngái chính là người Hoa, hay một nhánh của người Hoa dựa trên những nét giống hệt về văn hóa cũng như phong tục. Song đến cuối những năm 70 thế kỉ trước, với những nghiên cứu công huân của các nhà tìm hiểu đã định danh người Ngái trong số đông 54 dân tộc vietnam.

Đồng thời đưa ra danh sách rằng, người Ngái với người Hoa là 2 số đông độc lập, khác lạ cả về tiếng nói, phương án đóng gói.   Năm 1999 số dân của đồng bào Ngái là 4.841 người gồm có các đội ngũ địa phương: Ngái Hắc Cá, Sín, Đản, Lê. Song tên gọi ưa chuộng nhất là Sán Ngái, mang tức thị “người miền núi”.

Tên gọi ấy không chỉ mang hàm y về địa hình nơi họ sinh sống mà còn như lời khẳng định rằng, dân tộc chính mình là một trong những hàng ngũ người có công khai hoang, dựng xây nên các bản làng trên vùng cao của các địa phương có dân tộc Ngái trú chân.

Cho đến năm 2009, bằng phổ quát căn do khác biệt, dân số của tập thể này đã có sự sụt giảm đáng kể khi chỉ còn chưa đầy 1100 người. Hiện diện ở Tam Thái có khoảng trên 400 người, chiếm giữ hơn một phần ba số người Ngái ở vn. Nơi đây được ghi nhận là xóm người Ngái tập trung đông nhất, còn ở các địa phương khác, bà con sống xen kẽ với các dân tộc anh em xung quanh.

Bí ẩn về tộc người “nhỏ bé” nhất Việt Nam

Ông Thẩm Dịch Thọ sản xuất món "khau nhục" mời khách

Cụ Hoa Huân năm nay đã 91 tuổi, nhưng ông nhớ rõ lắm cuộc thiên cư cùng mái nhà từ Hà Cối, Quảng Ninh lên Thái Nguyên khi ông mới chỉ 11 tuổi. “Bố tôi hình thành ở Trung  Quốc, thiên di sang vn. Tôi xuất hiện ở Hà Cối. Năm tôi 10 tuổi thì khởi đầu tới Thái Nguyên. Không nhớ là đã đi bao lăm ngày, nhưng khi đến vùng đất này thì dừng lại, vì ở đây đất đai tốt, lại có phổ thông mỏ thép, dễ làm ăn”, cụ Huân kể.

Ở Tam Thái, họ Nai lưng được xem là một trong ba dòng tộc đầu tiên của người Ngái đến khai phá và lập nghiệp ở đất này. Mua bán với chúng tôi, anh È Văn Cường, cho biết: Vào năm 1920, ba hộ người Ngái thuộc ba dòng tộc Thẩm, họ Trần và họ Lâm từ Hà Cối, quận Đông Triều, tỉnh giấc Quảng Ninh về đây lập nghiệp, rồi kết hôn với người Sán Dìu và các tộc người khác để sản xuất dần cho tới hôm nay.   

Sự biến thiên của lịch sử cũng đã làm cho Tam Thái không còn giữ lại được không gian thôn bản đặc trưng của người Ngái ngày nào. Xưa kia, ở đây toàn bộ là nhà trình tường với nhì dạng nhà chữ Điền và nhà chữ Môn, với các nhà cửa phụ nằm dọc nhị bên bỏ ra cho bếp, chuồng gia súc... tiếp nối nhau thành 1 vòng khép rất dị.

Ở giữa là sân, giống như một cái giếng trời rộng và chỉ có 1 cửa ra vào. Vật liệu sử dụng để xây nhà là những viên gạch rất to, được làm cho từ đất trộn nhuyễn với rơm rồi đóng khuôn, phơi nỏ. Kiến trúc đó cho thấy lối sống khép lạ mắt, chủ quyền của họ.  

Thời điểm vừa mới đây, dù không còn giữ được kiến trúc cũ, nhưng người Ngái ở Tam Thái vẫn giữ kiểu nhà truyền thống là một tổ thích hợp gồm nhà chính để ở, nhà bếp và chuồng gia súc được xây đắp đơn nhất. Họ vẫn lập thôn ấp ở khung đồi, thung lũng. Cách thức bài trí trong nhà vẫn được người Ngái gìn giữ theo lệ xưa với bàn độc gia tiên, bàn độc thổ thần được đặt ngay trong gian chính ngôi nhà.

 Tính mùa vụ theo tiếng chim kêu

Trong đời sống bình thường, người Ngái giữ được không đa dạng phong tục cổ kính, trừ văn hóa về ẩm thực. Theo nhiều tài liệu dân tộc học, người Ngái ở Việt Nam có nguyên do từ người Hẹ hay Khách Gia ở Phúc Kiến, Quảng Đông di cư theo các con phố hồ vào Quảng Ninh, Hải Phòng từ nhiều thế kỷ trước.

Theo đẳng cấp ẩm thực Quảng Đông, một trong tám đẳng cấp ẩm thực điển hình TQuốc, thì ẩm thực Quảng Đông nghiêng về các món rán, chiên và hầm. Phong cách ẩm thực của người Ngái cũng nghiêng mạnh về các món cừu, chiên và hầm với phổ quát dầu mỡ, mang đậm vị cay và ngọt.  

Dẫu các bản làng Ngái ở Tam Thái hay Lục Nam (Bắc Giang), Lục Hồn, Hà Cối (Quảng Ninh) đang càng ngày càng neo người hơn do nhiều năm qua, dân số của dân tộc này không tăng song các bạn dạng làng người Ngái vẫn khá khang trang, trù phú. Họ gieo trồng thời vụ theo mùa phụ thuộc kinh nghiệm truyền đời và những tín hiệu tự nhiên như tiếng chim kêu, mùa hoa nở, lá cây rừng. Họ cũng rất thông minh trong việc đắp đập dẫn nước, làm đại dương trữ nước cho mùa vụ. Họ cũng rất nhiều năm kinh nghiệm những nghề thủ công như dệt chiếu, làm cho mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, khiến gạch ngói... Tỷ trọng đói nghèo của dân tộc Ngái tại các địa phương thường chỉ ở mức 15 đến 20%.

Bí ẩn về tộc người “nhỏ bé” nhất Việt Nam

Một góc Tam Thái 

Dù rằng ngày nay người Ngái không còn mặc trang phục truyền thống, nhưng theo lời ông Hoa Huân thì y phục của họ giống với người Hoa. Đàn bà Ngái thường mặc áo 5 thân, cài khuy lệch về bên phải. Nam giới mặc áo màu chàm, có túi, quần lá tọa. Đồng bào cũng thường đan các loại mũ, nón khiến cho từ mây tre, lá cọ để sử dụng lúc đi làm và che ô, quàng khăn vào những dịp quan trọng.

Coi trọng các cơ chế phân chia mái ấm, dòng tộc cũng như các hình thái sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, người Ngái rất coi trọng việc phụng dưỡng tiên nhân và các loại ''thần'', ''ma'' ... Các gia đình đều có bàn thờ cha ông, thôn ấp nào cũng có đền, chùa. Đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật tác động sâu sắc tới đời sống của bà con. Trong mái ấm, đấng phu quân quyết định mọi việc lớn, đàn ông được coi trọng, con gái không được chia gia tài khi phụ thân mẹ chết và phải về nhà chồng sau khi cưới. Các xóm làng bao giờ cũng có một người tộc trưởng, có quyền quyết định, điều hành mọi việc lớn nhỏ tuổi trong thôn.

Xưa kia, trai gái Ngái được cha mẹ dựng hiền thê gả chồng phải trải qua hai lần cưới: lễ kết hôn và lễ nhập phòng. Để cưới hoàng hậu cho con, nhà trai chủ động lựa chọn tậu đối tượng dạm hỏi. Khi có thai, đàn bà Ngái kiêng cữ rất cẩn thận: không ăn ốc, làm thịt bò, dê, rủi ro vá hay tìm áo quần. Sau khi sinh con 60 ngày đối với con đầu, 40 ngày đối với con thứ, người sản phụ mới được đến nhà mẹ đẻ của mình…  

Cố gắng bảo tàng

Tuy đang phải đương đầu nguy cơ suy thoái nòi, nhưng có yếu tố đáng mừng là bà con ở Tam Thái vẫn còn dùng được tiếng Ngái trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày cũng như trong các làn điệu dân ca, hát giao duyên được gọi là Sường cô hay Xướng ca. Chế độ sinh hoạt văn hóa này khá lãng mạn với những ca trong khoảng trong sáng, tình cảm và bao hàm phổ thông nội dung răn dạy phương pháp ứng xử, trải nghiệm làm cho ăn. Thậm chí là có thể ngẫu hứng sáng tác thêm lời mới cho Sường cô nên trai gái Ngái có thể hát đối nhau 5 đến 7 đêm liền vẫn không bị trùng lặp. Kho tàng văn học bình dân cũng khá phong lưu, đa dạng trò chơi như múa sư tử, múa gậy, rồng rắn hài hước song bây giờ bà con ít sử dụng nên bị mai một nhiều.  

Phổ biến mái ấm họ Thẩm ở Tam Thái trong khoảng phổ biến năm nay vẫn ăn cơm nấu theo kiểu phụ vương ông như thời còn ở miền Đông Triều, Quảng Ninh. Người Ngái ở đây ưa thích gạo tẻ mà họ gọi là “trám cục” trồng trên các thửa ruộng lầy “sùi thẻn” loanh quanh núi Cái với nhì vụ chiêm và vụ mùa. Gạo sau khi được nấu qua một lượt nước sôi, sẽ được vớt ra để hong chín bằng nguyên tắc cách thức thuỷ. Phần nước cơm còn lại sẽ được sử dụng khiến nước uống trái cây gọi là “mì canh”.  

 Trong khi, còn một món ăn mang đậm cội nguồn người Hẹ, Khách Gia mà người Ngái mang tham gia đất Việt, đó chính là món “khau nhục” mà ông Thẩm Dịch Thọ, trưởng họ Thẩm ở Tam Thái đã đóng gói mời chúng tôi nếm thử. Món ăn này giờ đây đã ảnh hưởng lên rất nhiều dân tộc bạn bè khác như Sán Chỉ, Cao Lan và khác biệt là người Tày và người Nùng. Người Tày Nùng gọi vui món này là “khổ nhục” bởi thứ tự sản xuất cầu kỳ, vất vả. Thế nhưng không thể không làm vì hương vị thơm ngon của nó.  

Có thể nói, ẩm thực không chỉ là để duy trì cuộc sống, mà còn là sự đoàn kết giữa loài người với tự nhiên. Không chỉ tương tự, tiếp cận với đẳng cấp ẩm thực từ cá nhân, mái nhà cho đến cả một đồng đội. Ở người Ngái, trong bữa ăn cũng không có đa dạng eo sèo, con gái hay nàng dâu ko phải sắp mâm ăn riêng mà được phép ngồi tầm thường với phụ thân và các anh em trai của chồng. Và đây là điều khác hơn nhiều so các dân tộc khác.  

Một trị giá văn hóa phi vật thể chẳng thể không nhắc tới của người Ngái chính là Lễ Kỳ Yên ổn thường được tổ chức vào thời điểm đầu năm mới, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng sinh sôi, tươi tốt, mọi nhà dân chúng được bình yên, vạn sự như ý… Lễ cũng rất dị này được sẵn sàng khá cầu kì và khác biệt chẳng thể thiếu bức tranh Tam thanh Ngọc đế (các vị thần linh), thanh la, tù và, dao...  

Người chủ lễ mặc áo cà sa, đội mũ hòa thượng dẫn đầu một đoàn người trong khoảng 5 tới 10 bạn trẻ mạnh bạo đi vòng nói quanh sân lễ theo hình bát quái, vừa đi vừa múa hát. Lời bài hát mang nội dung lên tiếng với thần linh về kết quả đóng chai của một năm qua của bà con dân tộc, cũng như mong cho một năm mới mọi nhà mọi vật đều hưng thịnh. Ví như tới với Lục Nam vào những ngày đầu năm mới, bạn sẽ tiện lợi được chứng kiến lễ Kỳ Im rộn ràng tiếng đồng la, tù và…  

Chọn lựa đất này làm cho quê hương đã qua ba thế kỷ, thế nhưng mãi tới năm 1979, người Ngái mới chính thức được công nhận là một dân tộc. Trên chặng trục đường di cư của mình, trải qua đa dạng biến cố lịch sử, có lúc, người Ngái phải tự xoá nhoà mình tham gia phổ quát tập thể dân tộc đồng đội. Thế nhưng, với những món ăn truyền thống mãi còn truyền đời, người Ngái vẫn minh chứng cho sự hiện diện của bản thân trong đại gia đình 54 dân tộc trên đất Việt.


Đọc thêm: váy ngủ gợi cảm vera

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét